Việt Nam hiện có một đội ngũ sức người khá dồi dào so với nhiều nước trong lĩnh vực và trên thế giới. Hiện tại , nước ta có trên 49 , 2 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 90 , 59 triệu người ( chiếm 57 , 3% ) , đứng thứ 3 ở Đông Nam Á ( sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin ) và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số. Số người trong độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người , chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61% lực lượng cần lao , đây là lực lượng có xác xuất dự khán xuất khẩu lao động Nhật Bản. Sức trẻ là đặc thù nổi bật , là tiềm năng nguồn nhân lực Việt Nam , là yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao đông đi làm việc ở nước ngoài.
1. Nguồn nhân lực Việt Nam:
Về số lượng nguồn lao động: Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá rất nhiều so với nhiều nước trong chuye và trên thế giới. Hiện nay , nước ta có trên 49 , 2 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 90 , 59 triệu người ( chiếm 57 , 3% ) , đứng thứ 3 ở Đông Nam Á ( sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin ) và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số. Số người trong độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người , chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61% lực lượng lao động , đây là lực lượng có xác xuất tham dự xuất khẩu cần lao. Sức trẻ là đặc thù nổi trội , là tiềm năng nguồn sức người Việt Nam , là yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao đông đi làm việc ở nước ngoài.
Về chất lượng nguồn lao động: Trong tổng số 49 , 2 triệu người trong độ tuổi cần lao , chỉ có 7 , 3 triệu người đã được đào tạo , chiếm 14 , 9% lực lượng lao động. Trong số những người đang theo học ở các trường chuyên nghiệp trên Cả nước thì tỷ lệ người đang theo học Thấp sơ cấp là 1 , 7% , trung cấp 20 , 5 , cao đẳng 24 , 5% và Đại học trở lên là 53 , 3%. Tỷ trọng cần lao đã qua đào tạo ở nước ta rất thấp , cụt là 86 , 7% dân số trong độ tuổi cần lao chưa được đào tạo chuyên môn , kỹ thuật , đáng chú ý hơn là lĩnh vực nông thôn , nơi phần lớn người cần lao có nguyện vọng đi làm việc ở ngoại bang thì tỷ lệ cần lao chưa được đào tạo chiếm 92%. Như vậy , đội ngũ cần lao của ta trẻ và rất nhiều nhưng chưa được trang bị chuyên trị , kỹ thuật. Hiện cả nước có hơn 41 , 8 triệu lao động , chiếm 85 , 1% lực lượng lao động chưa được đào tạo để đạt một trình trình độ chuyên môn , kỹ thuật nào đó.
Về đặc điểm vùng , miền của người cần lao tham gia xuất khẩu lao động: Theo số liệu thống kê cho thấy số lượng lao động tham dự đi xuất cảng lao động của các tỉnh , thành phố khu vực niềm Bắc và miền Trung chiếm 95% , số cần lao này cốt yếu sống ở nông thôn , trung du và miền núi. Đây là lực lượng cần lao “4 không” – không nghề , không tiếng nước ngoài , không ý nghĩa công nghiệp và không có kinh tế.
2. Một số giải pháp:
Ngoài việc bồi dưỡng tri thức nhu yếu cho người cần lao trước khi đưa đi làm việc ở ngoại bang theo quy định thì đào tạo nghề , tiếng nước ngoài , huấn luyện tác phong cần lao Công lao cho người cần lao có tầm quan trọng càng ngày càng tăng đối với việc duy trì , phát triển và tạo khả năng cạnh tranh cho cần lao Việt Nam trên thịt lao động quốc tế. Trong khi nguồn nhân lực của nước ta cốt yếu là lao động đơn giản , thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho xuất cảng lao động dẫn đến kìm hãm sự ổn kịnh và phát triển thịt của cần lao ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã và đang gặp phải những có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn trong việc tuyển dụng lao động có nghề có sẵn trên thịt thà cần lao trong nước để đáp ứng nhu cầu ngày cào lớn của đối tác nước ngoài. Sự tình này cần phải được giải quyết mau chóng. Trong bối cảnh nguồn lực của quốc gia đầu tư cho phát triển , nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn khả năng hạn hẹp , chưa công hiệu , nội dung , Các quy định đào tạo còn nặng về thuyết giáo , xem nhẹ thực hiện kỹ năng nghề cho người cần lao thì ngành xuất cảng lao động đi Nhật Bản đã và đang chủ động áp dụng một số giải pháp sau:
Một là , Xây dựng nội dung , chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ ăn nhập với request về kỹ năng nghề , tiếng nước ngoài của của đối tác nước ngoài. Nội dung đào tạo tập kết huấn luyện kỹ năng nghề cho người lao động và an toàn vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Chỉ dẫn cơ sở đào tạo căn cứ đặc trưng thịt thà hấp thụ cần lao để rèn luyện ý nghĩa lao động Công lao cho người cần lao. Ví dụ: đối với lao động xuống tóc nghiệp tại Nhật Bản thì cơ sở đào tạo phải rèn cho người lao động bỏ thói thường ngủ trưa , đi làm việc đúng giờ , tác nghiệp phải xác thực , tung độ chỉ được thực hiện nghề nghiệp khi đã hiểu rõ request của người quản lý…
Hai là , thí nghiệm đặt hàng đào tạo nghề cho người cần lao đi làm việc ở ngoại bang theo cơ chế đặt hàng thời kì 2008-2010 , nội dung cốt tử của dự án là nhà nước tương trợ 70% chi phí học nghề cho người cần lao , doanh nghiệp hoặc người cần lao chịu chi phí 30% còn lại , nếu người cần lao đạt Thấp nghề theo quy định và được đối tác ngoại bang tiếp nhận. Mục đích của đề án là xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất người cần lao học nghề trước khi đi làm việc ở ngoại bang nhằm tăng tỷ lệ lao động có nghề đi làm việc ở nước ngoài , tạo khả năng tranh đua với nhau và từng bước xây dựng thương hiệu cần lao Việt Nam trên thịt cần lao quốc tế đối với các nghề: nghề Hàn Thấp 3G và 6G , các nghề trong ngành xây dựng , điều dưỡng viên , công chức phục vụ khách sạn , nhà hàng. Sau thí điểm sẽ tổng kết , đánh giá , rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.
Ba là , khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất , trang thiết bị thực hành để chủ động đào tạo nguồn lao động đáp ứng kịp thời request về số lượng và chất lượng cần lao của chủ sử dụng cần lao ngoài nước.
Bốn là , nhà nước đầu tư xây dựng số trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu đặt tại các vùng , miền và trang bị máy móc , thiết bị đào tạo nghề , tiếng nước ngoài đạt chất lượng cao.
Năm là , nhà nước kêu gọi các nước có nhu câu tiếp thu cần lao có nghề của Việt Nam đầu tư cơ sở vật chất , trang thiết bị thực hiện , giáo trình , tài liệu giảng dạy và Học hỏi , đào tạo chuẩn hóa hàng ngũ thầy giáo dạy.
Sáu là , Về lâu dài , quốc gia quy định Các quy định nghề theo từng thịt và kiểm định chất lượng lao động có nghề trước khi đi làm việc ở ngoại bang. Xây dựng hệ thống giao thông đánh giá chất lượng đào tạo nghề , ngoại ngữ cho cần lao xuất cảng giữa các cơ sở đào , doanh nghiệp.
1. Nguồn nhân lực Việt Nam:
Về số lượng nguồn lao động: Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá rất nhiều so với nhiều nước trong chuye và trên thế giới. Hiện nay , nước ta có trên 49 , 2 triệu người trong độ tuổi lao động trên tổng số 90 , 59 triệu người ( chiếm 57 , 3% ) , đứng thứ 3 ở Đông Nam Á ( sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin ) và đứng thứ 13 trên thế giới về quy mô dân số. Số người trong độ tuổi từ 20 đến 39 khoảng 30 triệu người , chiếm 35% tổng dân số và chiếm 61% lực lượng lao động , đây là lực lượng có xác xuất tham dự xuất khẩu cần lao. Sức trẻ là đặc thù nổi trội , là tiềm năng nguồn sức người Việt Nam , là yếu tố rất thuận cho việc tuyển chọn lao đông đi làm việc ở nước ngoài.
Về chất lượng nguồn lao động: Trong tổng số 49 , 2 triệu người trong độ tuổi cần lao , chỉ có 7 , 3 triệu người đã được đào tạo , chiếm 14 , 9% lực lượng lao động. Trong số những người đang theo học ở các trường chuyên nghiệp trên Cả nước thì tỷ lệ người đang theo học Thấp sơ cấp là 1 , 7% , trung cấp 20 , 5 , cao đẳng 24 , 5% và Đại học trở lên là 53 , 3%. Tỷ trọng cần lao đã qua đào tạo ở nước ta rất thấp , cụt là 86 , 7% dân số trong độ tuổi cần lao chưa được đào tạo chuyên môn , kỹ thuật , đáng chú ý hơn là lĩnh vực nông thôn , nơi phần lớn người cần lao có nguyện vọng đi làm việc ở ngoại bang thì tỷ lệ cần lao chưa được đào tạo chiếm 92%. Như vậy , đội ngũ cần lao của ta trẻ và rất nhiều nhưng chưa được trang bị chuyên trị , kỹ thuật. Hiện cả nước có hơn 41 , 8 triệu lao động , chiếm 85 , 1% lực lượng lao động chưa được đào tạo để đạt một trình trình độ chuyên môn , kỹ thuật nào đó.
Về đặc điểm vùng , miền của người cần lao tham gia xuất khẩu lao động: Theo số liệu thống kê cho thấy số lượng lao động tham dự đi xuất cảng lao động của các tỉnh , thành phố khu vực niềm Bắc và miền Trung chiếm 95% , số cần lao này cốt yếu sống ở nông thôn , trung du và miền núi. Đây là lực lượng cần lao “4 không” – không nghề , không tiếng nước ngoài , không ý nghĩa công nghiệp và không có kinh tế.
2. Một số giải pháp:
Ngoài việc bồi dưỡng tri thức nhu yếu cho người cần lao trước khi đưa đi làm việc ở ngoại bang theo quy định thì đào tạo nghề , tiếng nước ngoài , huấn luyện tác phong cần lao Công lao cho người cần lao có tầm quan trọng càng ngày càng tăng đối với việc duy trì , phát triển và tạo khả năng cạnh tranh cho cần lao Việt Nam trên thịt lao động quốc tế. Trong khi nguồn nhân lực của nước ta cốt yếu là lao động đơn giản , thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho xuất cảng lao động dẫn đến kìm hãm sự ổn kịnh và phát triển thịt của cần lao ngoài. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã và đang gặp phải những có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn trong việc tuyển dụng lao động có nghề có sẵn trên thịt thà cần lao trong nước để đáp ứng nhu cầu ngày cào lớn của đối tác nước ngoài. Sự tình này cần phải được giải quyết mau chóng. Trong bối cảnh nguồn lực của quốc gia đầu tư cho phát triển , nâng cao chất lượng nguồn nhân lực còn khả năng hạn hẹp , chưa công hiệu , nội dung , Các quy định đào tạo còn nặng về thuyết giáo , xem nhẹ thực hiện kỹ năng nghề cho người cần lao thì ngành xuất cảng lao động đi Nhật Bản đã và đang chủ động áp dụng một số giải pháp sau:
Một là , Xây dựng nội dung , chương trình đào tạo nghề và ngoại ngữ ăn nhập với request về kỹ năng nghề , tiếng nước ngoài của của đối tác nước ngoài. Nội dung đào tạo tập kết huấn luyện kỹ năng nghề cho người lao động và an toàn vệ sinh lao động nhằm ngăn ngừa tai nạn xảy ra trong quá trình tác nghiệp. Chỉ dẫn cơ sở đào tạo căn cứ đặc trưng thịt thà hấp thụ cần lao để rèn luyện ý nghĩa lao động Công lao cho người cần lao. Ví dụ: đối với lao động xuống tóc nghiệp tại Nhật Bản thì cơ sở đào tạo phải rèn cho người lao động bỏ thói thường ngủ trưa , đi làm việc đúng giờ , tác nghiệp phải xác thực , tung độ chỉ được thực hiện nghề nghiệp khi đã hiểu rõ request của người quản lý…
Hai là , thí nghiệm đặt hàng đào tạo nghề cho người cần lao đi làm việc ở ngoại bang theo cơ chế đặt hàng thời kì 2008-2010 , nội dung cốt tử của dự án là nhà nước tương trợ 70% chi phí học nghề cho người cần lao , doanh nghiệp hoặc người cần lao chịu chi phí 30% còn lại , nếu người cần lao đạt Thấp nghề theo quy định và được đối tác ngoại bang tiếp nhận. Mục đích của đề án là xứng đáng được đề nghị hoặc đề xuất người cần lao học nghề trước khi đi làm việc ở ngoại bang nhằm tăng tỷ lệ lao động có nghề đi làm việc ở nước ngoài , tạo khả năng tranh đua với nhau và từng bước xây dựng thương hiệu cần lao Việt Nam trên thịt cần lao quốc tế đối với các nghề: nghề Hàn Thấp 3G và 6G , các nghề trong ngành xây dựng , điều dưỡng viên , công chức phục vụ khách sạn , nhà hàng. Sau thí điểm sẽ tổng kết , đánh giá , rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.
Ba là , khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cơ sở vật chất , trang thiết bị thực hành để chủ động đào tạo nguồn lao động đáp ứng kịp thời request về số lượng và chất lượng cần lao của chủ sử dụng cần lao ngoài nước.
Bốn là , nhà nước đầu tư xây dựng số trung tâm đào tạo lao động xuất khẩu đặt tại các vùng , miền và trang bị máy móc , thiết bị đào tạo nghề , tiếng nước ngoài đạt chất lượng cao.
Năm là , nhà nước kêu gọi các nước có nhu câu tiếp thu cần lao có nghề của Việt Nam đầu tư cơ sở vật chất , trang thiết bị thực hiện , giáo trình , tài liệu giảng dạy và Học hỏi , đào tạo chuẩn hóa hàng ngũ thầy giáo dạy.
Sáu là , Về lâu dài , quốc gia quy định Các quy định nghề theo từng thịt và kiểm định chất lượng lao động có nghề trước khi đi làm việc ở ngoại bang. Xây dựng hệ thống giao thông đánh giá chất lượng đào tạo nghề , ngoại ngữ cho cần lao xuất cảng giữa các cơ sở đào , doanh nghiệp.

No comments:
Write comments